Giá vốn bán hàng là gì? Cách tính giá vốn bán hàng

Trong kinh doanh, sẽ có nhiều người thắc mắc chi phí bán hàng là gì? Cách tính giá vốn hàng bán như thế nào? Giá vốn hàng bán có vai trò gì… tất cả những câu hỏi liên quan đến giá vốn hàng bán sẽ được giải đáp trong bài viết dưới đây.

1. COGS là gì?

Giá vốn hàng bán là giá vốn hàng bán trong một khoảng thời gian xác định. Chi phí này bao gồm chi phí nguyên vật liệu được sử dụng để sản xuất hàng hóa cùng với chi phí lao động trực tiếp được sử dụng để sản xuất hàng hóa. Nó không bao gồm chi phí gián tiếp, chẳng hạn như chi phí phân phối và chi phí lực lượng bán hàng. Giá vốn hàng bán còn được gọi là “giá vốn hàng bán”.

2. Công thức và cách tính giá vốn hàng bán

COGS = Khoảng không quảng cáo bắt đầu + P – Hàng tồn kho cuối kỳ

Phía trong:

  • COGS: Giá vốn hàng bán
  • P: Mua trong một khoảng thời gian nhất định

Hàng tồn kho đã bán xuất hiện trong báo cáo thu nhập trong phần Giá vốn hàng bán. Hàng tồn kho đầu kỳ là hàng tồn kho còn sót lại từ năm trước, tức là hàng hóa chưa bán được trong năm trước. Bất kỳ giao dịch mua sản phẩm bổ sung nào do công ty sản xuất hoặc bán lẻ thực hiện đều được thêm vào kho hàng ban đầu. Vào cuối năm, các sản phẩm chưa bán được trừ vào hàng tồn kho đầu năm và các khoản mua bổ sung. Con số cuối cùng thu được từ phép tính là giá vốn hàng bán trong năm.

Giá vốn bán hàng chỉ áp dụng cho các chi phí liên quan trực tiếp đến việc sản xuất hàng hoá dự định bán.

Bảng cân đối kế toán có một tài khoản gọi là tài khoản tài sản lưu động. Dưới tài khoản này là một mục được gọi là hàng tồn kho Bảng cân đối kế toán chỉ phản ánh tình hình tài chính của một công ty vào cuối kỳ kế toán. Điều này có nghĩa là giá trị hàng tồn kho được ghi nhận vào tài sản lưu động dưới dạng hàng tồn kho cuối cùng. Vì hàng tồn kho ban đầu là hàng tồn kho mà công ty có vào đầu kỳ kế toán, có nghĩa là hàng tồn kho đầu tiên cũng là hàng tồn kho cuối cùng của công ty vào cuối kỳ kế toán trước. .

3. Giá vốn hàng bán cho biết điều gì?

Giá vốn hàng bán là một số báo cáo tài chính quan trọng vì nó được trừ vào doanh thu của công ty để xác định lợi nhuận gộp. Lợi nhuận gộp là thước đo lợi nhuận để đánh giá hiệu quả của một công ty trong việc quản lý lao động và nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất.

Vì giá vốn hàng bán là chi phí kinh doanh (được ghi nhận là chi phí hoạt động trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh). Biết được giá vốn hàng bán giúp các nhà phân tích, nhà đầu tư và nhà quản lý ước tính lợi nhuận của một công ty. Nếu giá vốn hàng bán tăng thì thu nhập ròng giảm. Trong khi chuyển động này có lợi cho mục đích thuế thu nhập, doanh nghiệp sẽ có ít lợi nhuận hơn cho các cổ đông của họ. Do đó, doanh nghiệp cố gắng giữ giá vốn hàng bán ở mức thấp để lợi nhuận ròng thu về cao hơn.

Giá vốn hàng bán là chi phí mua hoặc sản xuất các sản phẩm mà công ty bán trong một khoảng thời gian, do đó, chi phí duy nhất trong thước đo này là chi phí liên quan trực tiếp đến việc sản xuất sản phẩm. bao gồm chi phí lao động, vật liệu và chi phí sản xuất.

Ví dụ, giá vốn hàng bán cho một nhà sản xuất ô tô sẽ bao gồm chi phí nguyên vật liệu cho các bộ phận tạo ra chiếc xe đó cộng với chi phí lao động được sử dụng để lắp ráp chiếc xe với nhau. Chi phí gửi xe đến đại lý và chi phí nhân công được sử dụng để bán xe sẽ được loại trừ.

Ngoài ra, chi phí phát sinh của những chiếc xe không bán được trong năm không được tính vào giá vốn hàng bán, dù trực tiếp hay gián tiếp. Nói cách khác, giá vốn hàng bán bao gồm chi phí trực tiếp để sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ mà khách hàng mua trong năm.

4. Loại trừ vào khoản giảm trừ giá vốn hàng bán

Nhiều công ty dịch vụ không có bất kỳ chi phí nào của hàng hóa được bán. Giá vốn hàng bán không được đề cập chi tiết trong các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung (GAAP), nhưng giá vốn hàng bán được định nghĩa là giá vốn hàng tồn kho đã bán trong một khoảng thời gian nhất định. Không chỉ các công ty dịch vụ không có hàng hóa để bán, mà các công ty dịch vụ thuần túy cũng không có hàng tồn kho. Nếu giá vốn hàng bán không được liệt kê trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh thì không được khấu trừ các khoản phí đó.

Ví dụ về các công ty dịch vụ thuần túy bao gồm công ty kế toán, Office luật, thẩm định viên bất động sản, tư vấn kinh doanh, vũ công chuyên nghiệp,…. Mặc dù tất cả các ngành này đều có chi phí kinh doanh và thường chi tiền để cung cấp dịch vụ của họ, nhưng họ không liệt kê giá vốn hàng bán. Thay vào đó, họ có cái gọi là “chi phí dịch vụ”, không được bao gồm trong khoản khấu trừ giá vốn hàng bán.

5. Giá vốn doanh thu so với giá vốn hàng bán

Chi phí doanh thu tồn tại cho các dịch vụ theo hợp đồng đang thực hiện có thể bao gồm nguyên vật liệu thô, nhân công trực tiếp, chi phí vận chuyển và hoa hồng trả cho nhân viên bán hàng. Tuy nhiên, những mặt hàng này không thể được coi là giá vốn hàng bán nếu không có sản phẩm được sản xuất để bán. Ví dụ về “doanh nghiệp dịch vụ cá nhân” không tính giá vốn hàng bán trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Những người này bao gồm bác sĩ, luật sư, thợ mộc và họa sĩ.

Nhiều công ty dựa trên dịch vụ có một số sản phẩm để bán. Ví dụ, các hãng hàng không và khách sạn chủ yếu là nhà cung cấp các dịch vụ như vận chuyển và lưu trú, nhưng họ cũng bán quà tặng, thực phẩm, đồ uống và các mặt hàng khác. Những mặt hàng này chắc chắn được coi là hàng hóa, và những công ty này chắc chắn có hàng tồn kho của mặt hàng đó. Cả hai ngành đều có thể liệt kê giá vốn hàng bán trên báo cáo thu nhập và yêu cầu họ tính thuế.

6. Chi phí hoạt động so với giá vốn hàng bán

Cả chi phí hoạt động và giá vốn hàng bán đều là những khoản chi phí mà công ty phải chịu khi hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, chi phí được tách biệt trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Không giống như giá vốn hàng bán, chi phí hoạt động (OPEX) là chi phí không liên quan trực tiếp đến việc sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ. Thông thường, chi phí bán hàng & quản lý (chi phí bán hàng và chi phí quản lý) được bao gồm trong chi phí hoạt động như một mục hàng riêng biệt. Chi phí bán hàng & quản lý là các chi phí không liên quan trực tiếp đến sản phẩm như chi phí chung. Ví dụ về chi phí hoạt động bao gồm:

  • Thuê
  • Tiện ích
  • Văn phòng phẩm
  • Phí hợp pháp
  • Bán hàng và marketing
  • Trả
  • Chi phí bảo hiểm
  • Hạn chế của giá vốn hàng bán

Kế toán có thể dễ dàng thao túng giá vốn. Nó có thể được thay đổi bằng cách:

  • Được ấn định chi phí sản xuất tồn kho cao hơn chi phí phát sinh
  • Giảm giá quá mức
  • Trả quá nhiều cho nhà cung cấp
  • Thay đổi hàng tồn kho cuối kỳ kế toán
  • Đánh giá quá cao hàng tồn kho trên tay
  • Không xóa tất cả hàng tồn kho quá hạn

Khi hàng tồn kho bị tăng giả tạo, giá vốn hàng bán sẽ bị báo cáo thấp hơn, do đó dẫn đến tỷ suất lợi nhuận gộp thực tế cao hơn và thu nhập ròng tăng.

Các nhà đầu tư xem qua báo cáo tài chính của một công ty có thể phát hiện ra kế toán hàng tồn kho không cẩn thận bằng cách kiểm tra việc tích tụ hàng tồn kho, chẳng hạn như hàng tồn kho tăng nhanh hơn doanh số bán hàng hoặc tổng tài sản được báo cáo.

Hy vọng qua bài viết này bạn đọc sẽ hiểu Chi phí bán hàng là gì, cách tính và những vai trò của nó trong kinh doanh.

opasrilanka.com

✤ Top 20 bài viết Tổng Hợp mới nhất :

Xem thêm nhiều Tổng Hợp mới hay

Mình nghĩ bạn cần xem =>  Bí quyết chọn ổ đĩa quang và cách khắc phục các lỗi thường gặp với ổ CD/DVD

Leave A Reply

Your email address will not be published.